Chào mừng bạn đến với trường THPT Văn Ngọc Chính! - Địa chỉ: Quốc lộ 1A, ấp Khu 3, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng

 Hôm nay ngày 11/9/2010

Đăng nhập

Tên

Mật mã

Tìm với Google

Từ khóa:

Liên kết nhanh

Thời sự giáo dục

Quy chế

Qui chế thi tốt nghiệp Bổ túc trung học cơ sở và Bổ túc trung học phổ thông

Văn bản

Quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra các kỳ thi theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tuyển sinh

Du học tự túc

Để chọn được nơi tư vấn du học tốt nhất

Dạy thêm Học thêm

Tuyển sinh

Nhìn ra thế qiới

Học tập tại Trường Đại học Marsall State (Mỹ)

Trung học phổ thông

Tự nhiên lấn át xã hội

Chương trình phân ban THPT: 90% học sinh không hiểu bài

Về chương trình THPT phân ban mới, Thứ trưởng Nguyễn Văn Vọng: Đảm bảo yêu cầu cải cách giáo dục hiện nay

Ðổi mới đào tạo sư phạm, gắn với đổi mới giáo dục phổ thông

Sách ôn thi THPT và ĐH: Không đáng tin cậy!

TP Hồ Chí Minh: Bắt đầu áp dụng giáo án điện tử trong trường học

Số khách Online
18 khách

Số lần truy cập trang
Web: 275074

Thông báo

Sách tham khảo về đổi mới giáo dục THPT

Xem kết quả học tập và rèn luyện cuối năm - năm học 2007-2008

Điều chỉnh thời khóa biểu - áp dụng từ ngày 21/01/2008

Phụ đạo cho học sinh yếu kém bộ môn

Thông báo nộp ảnh giáo viên

Điều chỉnh TKB dạy phụ học sinh yếu kém hè 2008 - áp dụng từ ngày 30/6

Thông báo lịch nhập học

Thời khóa biểu năm học 2008 - 2009 (áp dụng từ ngày 18/8/2008)

Lịch thi học kỳ 1 năm học 2008 - 2009

Xem kết quả học tập và rèn luyện học kỳ 1 - năm học 2008-2009

Thời khóa biểu mới, học kỳ 2 năm học 2008 - 2009 (áp dụng từ ngày 06/4/2009)

Biểu mẫu nhập điểm

Lịch thi Học kỳ 2

Thời khóa biểu phụ đạo hè 2009 (áp dụng từ ngày 22/6/2009)

Danh sách học sinh học phụ đạo hè 2009 của các lớp

Kế hoạch công tác hè 2009 và chuẩn bị năm học 2009 - 2010

Lịch thi lại hè 2009

Danh sách giáo viên tham gia coi, chấm thi lại hè 2009

Lịch học của các khối lớp năm học 2009 - 2010

Danh sách phân công giảng dạy năm học 2009 - 2010

Thời khóa biểu học kỳ 2 (áp dụng từ ngày 22/02/2010 - mùng 09 tháng Giêng, Canh Dần)

Biểu mẫu nhập điểm Học kỳ 1 - năm học 2009-2010

Mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11

Lịch thi học kỳ 1 - Năm học 2009 - 2010

Kết quả học tập rèn luyện học kỳ 1 - năm học 2009 - 2010

Thông báo: Dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém năm học 2009 - 2010

Mừng xuân Canh Dần 2010

Thời khóa biểu học kỳ 2 (áp dụng từ ngày 26/04/2010)

Lịch thi HK2 và khảo sát chất lượng cuối cấp

Kết quả thi tốt nghiệp khóa ngày 02/6/ 2010

Lịch thi lại hè năm học 2009 - 2010

Danh sách giáo viên coi, chấm thi lại hè 2010

Lịch nhập học năm học 2010 - 2011

Danh sách giáo viên tham gia giảng dạy khối 12

Lịch học chính trị hè 2010

Phân công giảng dạy năm học 2010-2011

Thời khóa biểu học kỳ 1 - năm học 2010 - 2011 (áp dụng từ ngày 16/08/2010)

Thời khóa biểu học kỳ 1 - năm học 2010 - 2011 (áp dụng từ ngày 23/08/2010)

Thời khóa biểu học kỳ 1 - năm học 2010 - 2011 (áp dụng từ ngày 30/08/2010)

Học sinh Giỏi

1. Đặng Phước Tuấn - Lớp: 11A1; ĐTBm: 9.6

2. Hồng Châu Bảo Ngọc - Lớp: 6A6; ĐTBm: 9.3

3. Lâm Bửu Hưng - Lớp: 6A7; ĐTBm: 9.3

4. Dương Bùi Phương Trinh - Lớp: 7A7; ĐTBm: 9.3

5. Trần Quế Anh - Lớp: 6A7; ĐTBm: 9.2

6. Hà Nhật Tâm - Lớp: 10A1; ĐTBm: 9.2

7. Võ Thị Tuyết Nhi - Lớp: 7A6; ĐTBm: 9.1

8. Phạm Thế Hiển - Lớp: 8A6; ĐTBm: 9.1

9. Lý Triều Giang - Lớp: 9A1; ĐTBm: 9.1

10. Đào Thị Cẩm Tiên - Lớp: 9A1; ĐTBm: 9.1

11. Lê Chí Thiện - Lớp: 11A1; ĐTBm: 9.1

12. Châu Bùi Bích Ngọc - Lớp: 11A3; ĐTBm: 9.1

13. Liêu Thị Yến Vy - Lớp: 6A8; ĐTBm: 8.9

14. Lý Thị Thanh Tiền - Lớp: 8A3; ĐTBm: 8.9

15. Lý Bảo Trang - Lớp: 6A10; ĐTBm: 8.8

16. Huỳnh Thị Bé Hằng - Lớp: 6A4; ĐTBm: 8.8

17. Diệp Thảo Vy - Lớp: 6A6; ĐTBm: 8.8

18. Dương Thị Hồng Gấm - Lớp: 7A3; ĐTBm: 8.8

19. Phạm Thị Bé Hiền - Lớp: 8A2; ĐTBm: 8.8

20. Nguyễn Duy Thanh Tra - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.8

21. Nguyễn Thị Ánh Ngân - Lớp: 10A2; ĐTBm: 8.8

22. Huỳnh Hoàng Đông - Lớp: 11A1; ĐTBm: 8.8

23. Lý Thị Kim Hiền - Lớp: 8A5; ĐTBm: 8.7

24. Chiêm Bảo Hân - Lớp: 10A1; ĐTBm: 8.7

25. Trần Thị Phấn - Lớp: 10A2; ĐTBm: 8.7

26. Lê Thị Kim Trinh - Lớp: 11A3; ĐTBm: 8.7

27. Lương Nguyễn Viết Nam - Lớp: 6A6; ĐTBm: 8.6

28. Trần Phương Linh - Lớp: 6A9; ĐTBm: 8.6

29. Đỗ Thị Tuyết Ngân - Lớp: 7A2; ĐTBm: 8.6

30. Trần Thị Mỹ Huyền - Lớp: 7A3; ĐTBm: 8.6

31. Thạch Thị Thanh Diệu - Lớp: 8A6; ĐTBm: 8.6

32. Đặng Thị Oanh - Lớp: 6A6; ĐTBm: 8.5

33. Tô Thị Bảo Hân - Lớp: 6A9; ĐTBm: 8.5

34. Phan Đình Duy - Lớp: 7A5; ĐTBm: 8.5

35. Trần Đăng Khoa - Lớp: 7A6; ĐTBm: 8.5

36. Trần Thị Hồng Đào - Lớp: 8A1; ĐTBm: 8.5

37. Lý Thọl - Lớp: 8A2; ĐTBm: 8.5

38. Lâm Kim Hía - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.5

39. Quách Yến Nhi - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.5

40. Tiêu Thủy Tiên - Lớp: 10A1; ĐTBm: 8.5

41. Quách Thị Vàng - Lớp: 11A3; ĐTBm: 8.5

42. Lâm Thị Ngọc Hường - Lớp: 6A7; ĐTBm: 8.4

43. Lâm Thị Yến Nhi - Lớp: 7A2; ĐTBm: 8.4

44. Nguyễn Thanh Dũng - Lớp: 8A1; ĐTBm: 8.4

45. Nguyễn Thị Ngọc Cẩm - Lớp: 8A3; ĐTBm: 8.4

46. Xương Sầm Bát - Lớp: 8A4; ĐTBm: 8.4

47. Đỗ Văn Khang - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.4

48. Trần Ngọc Minh - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.4

49. Nguyễn Thị Cẩm Hà - Lớp: 10A1; ĐTBm: 8.4

50. Thạch Thị Ngọc Huynh - Lớp: 10A1; ĐTBm: 8.4

51. Dương Thị Quyền - Lớp: 10A1; ĐTBm: 8.4

52. Nguyễn Văn Quốc - Lớp: 11A2; ĐTBm: 8.4

53. Hà Huỳnh Anh - Lớp: 6A10; ĐTBm: 8.3

54. Bùi Mỹ Hảo - Lớp: 6A6; ĐTBm: 8.3

55. Trần Ngọc Mai - Lớp: 6A6; ĐTBm: 8.3

56. Nguyễn Thanh Hoài Hân - Lớp: 6A7; ĐTBm: 8.3

57. Dương Vũ Đăng Khoa - Lớp: 6A7; ĐTBm: 8.3

58. Nguyễn Ngọc Như - Lớp: 7A2; ĐTBm: 8.3

59. Huỳnh Thị Thanh Tuyền - Lớp: 10A2; ĐTBm: 8.3

60. Trương Thị Mỹ Hồng - Lớp: 11A1; ĐTBm: 8.3

61. Nguyễn Thị Hồng Nhung - Lớp: 11A1; ĐTBm: 8.3

62. Trần Thị Mỹ Kiều - Lớp: 11A3; ĐTBm: 8.3

63. Quách Minh Trí - Lớp: 12A1; ĐTBm: 8.3

64. Thái Hồng Ngọc - Lớp: 6A6; ĐTBm: 8.2

65. Phùng Công Toại - Lớp: 6A9; ĐTBm: 8.2

66. Bùi Đình Thông - Lớp: 7A1; ĐTBm: 8.2

67. Bùi Tuấn Huy - Lớp: 7A5; ĐTBm: 8.2

68. Nguyễn Hoàng Trọng Đức - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.2

69. Huỳnh Thiện Hùng - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.2

70. Trần Minh Thành - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.2

71. Văn Thanh Tuyền - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.2

72. Tăng Nguyễn Ngọc Trân - Lớp: 10A1; ĐTBm: 8.2

73. Dương Kim Huê - Lớp: 10A3; ĐTBm: 8.2

74. Triệu Kim Nguyên - Lớp: 11A1; ĐTBm: 8.2

75. Tăng Nguyệt Trinh - Lớp: 11A1; ĐTBm: 8.2

76. Nguyễn Thị Thùy Dung - Lớp: 12A1; ĐTBm: 8.2

77. Lâm Thị Thanh Thúy - Lớp: 6A2; ĐTBm: 8.1

78. Trần Ngọc Hân - Lớp: 6A6; ĐTBm: 8.1

79. Lâm Thị Trúc Đào - Lớp: 7A2; ĐTBm: 8.1

80. Huỳnh Thị Châu Đoan - Lớp: 7A7; ĐTBm: 8.1

81. Ngô Trần Mỹ Ngọc - Lớp: 8A4; ĐTBm: 8.1

82. Đỗ Thị Hồng Bích - Lớp: 8A5; ĐTBm: 8.1

83. Lâm Văn Pháp - Lớp: 9A1; ĐTBm: 8.1

84. Trần Trung Hỷ - Lớp: 10A1; ĐTBm: 8.1

85. Triệu Xuân Lộc - Lớp: 10A3; ĐTBm: 8.1

86. Nguyễn Chí Huyền - Lớp: 11A1; ĐTBm: 8.1

87. Dương Thị Hồng Thắm - Lớp: 12A1; ĐTBm: 8.1

88. Nguyễn Ngọc Anh Thư - Lớp: 7A2; ĐTBm: 8

89. Tiêu Thị Như Ý - Lớp: 7A8; ĐTBm: 8

90. Lê Tuấn Anh - Lớp: 12A1; ĐTBm: 8

 

HS Đỗ ĐH-CĐ

New Page 1

1. Thạch Thị Si Vươl. Ngành: 317 Trường: ĐH Cần Thơ

2. Thạch Thị Si Vươl. Ngành: 402 Trường: ĐH Cần Thơ

3. Quách Minh Trí. Ngành: 501 Trường: ĐH Cần Thơ

4. Quách Minh Trí. Ngành: 107 Trường: ĐH Cần Thơ

5. Thạch Minh Quang. Ngành: 201 Trường: ĐH Cần Thơ

6. Sơn Quan Thành . Ngành: 203 Trường: ĐH Cần Thơ

7. Trần Thị Phần. Ngành: 107 Trường: ĐH Cần Thơ

8. Sơn Thị Kim Hoàng. Ngành: 107 Trường: ĐH Cần Thơ

9. Thạch Minh Quang. Ngành: 305 Trường: ĐH Cần Thơ

10. Lê Thị Phích. Ngành: 317 Trường: ĐH Cần Thơ

11. Mai Thị Ngọc Hà. Ngành: 603 Trường: ĐH Cần Thơ

12. Sơn Thị Kiều Loan. Ngành: 602 Trường: ĐH Cần Thơ

13. Lê Quốc Cường. Ngành: 901 Trường: ĐH Cần Thơ

14. Dương So Ry A. Ngành: 901 Trường: ĐH Cần Thơ

15. Thạch Thái Quốc Hoàng. Ngành: 119 Trường: ĐH Võ Trường Toản

16. Dương Thị Hồng Thắm. Ngành: 114 Trường: ĐH Bách khoa Tp HCM

17. Bùi Thị Bé Nhi. Ngành: 101 Trường: ĐH DL Cửu Long

18. Lý Thị Mỹ Luyến. Ngành: C73 Trường: ĐH Công nghiệp Tp HCM

19. Trần Kim Long . Ngành: 2 Trường: CĐ Kỹ thuật Cao Thắng

20. Trần Thị Diệu. Ngành: 2 Trường: CĐ Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ

21. Hồ Tấn Lợi. Ngành: 8 Trường: CĐ Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ

22. Nguyễn Duy Thanh. Ngành: 4 Trường: CĐ Kinh tế Kỹ thuật Cần Thơ

23. Nguyễn Thị Mỹ Trân. Ngành: 1 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

24. Nguyễn Ngọc Ni. Ngành: 1 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

25. Nguyễn Thị Ngọc Hân. Ngành: 5 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

26. Nguyễn Thị Thùy Linh. Ngành: 1 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

27. Trần Quốc Khải. Ngành: 2 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

28. Trần Thị Mỹ Nương. Ngành: 2 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

29. Lâm Ngọc Hỏn. Ngành: 2 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

30. Chung Thái Dũng. Ngành: 4 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

31. Trịnh Hoàng Phúc. Ngành: 2 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

32. Trương Đặng Bích Trâm. Ngành: 1 Trường: CĐCĐ Sóc Trăng

 

Xem kết quả

Thi đại học - cao đẳng 2010
Thi Tốt nghiệp THPT năm 2010
Kết quả học tập 2009-2010

D.Sách thành viên

484 Thành viên

Thành viên đăng ký trong tuần:
mummum.gaquay
minhtoithoinh0a

Thành viên Online

1 Thành viên
huaphuocan

Thống kê hộp thư

  Tổng số ý kiến: 187
  Tổng số hồi đáp: 183

 

Thống kê câu hỏi

TS câu hỏi: 60

Chia ra

Tự nhiên: 12    

    Trả lời: 4

Xã hội: 48    

    Trả lời:19

 9/3/2010 - 2:00:00 PM
Trước giờ nộp hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ 2010: Ba lời khuyên
 

  Trong những điều thí sinh băn khoăn có câu hỏi: Tại sao có nhiều người giỏi mà vẫn thi rớt? Tại sao có nhiều người sức học vừa phải nhưng thi là đậu ngay? Tại sao có nhiều người thi đậu, học 4-5 năm trời ròng rã, tốt nghiệp xong rồi lại đòi làm lại từ đầu? Giá như có cơ hội được sửa sai?

Là người đi trước, thành công có, thất bại có, hy vọng các bạn thí sinh (TS) đón nhận những lời khuyên sau đây để phòng ngừa, né tránh rủi ro có thể xảy ra. Tôi xin nhấn mạnh một điều: Nhiều TS đã chủ quan bỏ qua các lời khuyên đơn giản để rồi tự mình làm phức tạp thêm cho sự khởi đầu của mình.

Phòng bệnh, điều trị cấp cứu

Nghe qua ai cũng nói việc này đơn giản mà sao làm không được? Vấn đề là ở chỗ đó. Nếu chọn sai sẽ là một sự lãng phí rất lớn cho bản thân, gia đình và xã hội. Lẽ ra, về nguyên tắc việc chọn ngành, nghề của TS phải từ rất sớm, nghĩa là nó mang tính định hướng, chứ không phải ngay trước kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ…

 Thử so sánh về mức độ kinh phí cho việc định hướng nghề nghiệp để thi và học cũng giống như 3 mức độ trong ngành y: phòng bệnh, điều trị và cấp cứu. Nếu lo 1 đồng chi phí dự phòng sẽ giảm được 9 đồng điều trị trước khi tránh được 100 đồng cấp cứu.

Nếu việc chọn lựa xuất phát từ sở thích, nguyện vọng của bản thân thì sẽ bền vững hơn. Việc chọn ngành không phù hợp ảnh hưởng rất lớn (theo hướng tiêu cực) đối với việc học hành và công việc của các thí sinh sau này. Hướng nghiệp là vấn đề lớn và đi trước một bước. “Hướng nghiệp và tuyển sinh, tuy 2 mà là 1”.

Tiếp theo là phải cân nhắc nhu cầu việc làm của ngành này? Nếu xác định được sẽ có ý nghĩa đối với cả cuộc đời, lâu dài... hơn là tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Thi trường nào, ngành nào để dễ đậu?”. Đậu rồi nhưng chỉ là sự trú chân tạm bợ, chân đứng đó nhưng trong đầu lại không một chút tâm huyết gì với ngành nghề đó.

 Biết lượng sức

Nghĩa là phải biết người biết ta. Kinh nghiệm cho thấy có nhiều sĩ tử học giỏi nhưng thi hoài không đậu nhưng có người học khá nhưng thi rất chắc, đậu liền. TS không nên chọn những nghề thật cao siêu nhưng không biết năng lực mình tới đâu. Trèo cao ngã đau là chuyện bình thường và không ai khuyến khích hậu quả này cả.

Sau khi chọn ngành mình thích, nên lượng sức mình có thể vừa với những trường nào. Dĩ nhiên, còn nhiều tiêu chí để tham khảo: điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển, nhu cầu xã hội, việc làm sau khi ra trường, điều kiện vị trí địa lý...

Ngành nghề hiện nay thì nhiều và đa dạng nhưng năng lực của con người thì có hạn, giới trẻ thì lại có quá nhiều ước mơ, hoài bão. Nói cách khác, sự lựa chọn nghề nghiệp hiện nay là rất phong phú và theo hướng tự do, tự nguyện. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp HS… bị lệ thuộc vào quyền quyết định của người khác để thi vào ngành mình không thích, bậc học không tương xứng. Nếu đậu, chỉ là sự tạm trú, rất không chắc chắn. Dẫu biết rằng, lời khuyên thì rất bổ ích, rất quan trọng nhưng cũng chỉ là sự tham khảo, bản thân các em phải tự quyết định về tương lai của mình.

“Giới trẻ hiện nay đang chọn nghề theo kiểu mì ăn liền. Tuổi trẻ chạy theo mốt là chuyện thường. Có em muốn thử sức mình ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Thử cho đã, bị dội ngược rồi mới ngẫm nghĩ lại là không nên tiếp tục nữa, mình phải là mình thôi. Có người thuộc nhóm thích thử thách thậm chí phiêu lưu một chút, có người lại thích sự yên tĩnh, ổn định. Lời khuyên ư? Hãy là chính mình.

Thích và phù hợp

Thích chưa chắc đã hợp! Có nhiều TS thích học để sau này làm bác sĩ nhưng, bạn đó hễ thấy máu là xỉu, thấy người khác xỉu là xỉu theo.

 Có bạn thích làm kế toán, liên quan đến tiền bạc nhưng khổ nỗi là lại hay bất cẩn, thậm chí khuất tất về tiền bạc… sẽ rất nguy hiểm cho chính họ và nơi họ làm việc. Có người chạy theo lĩnh vực truyền thông, tổ chức sự kiện…trong khi họ là người phù hợp với công việc gắn liền với thiên nhiên, hoa viên cây cảnh.

 Có bạn thích làm việc với máy tính nhưng cứ hễ ngồi trước bàn phím gõ gõ là hoa cả mắt. Trong khi bạn đó lại có năng khiếu hát rất hay và dẫn chương trình thì quá tuyệt. Vậy thì cái mình thích đâu có phù hợp? (Đương nhiên, ngoại trừ những trường hợp khổ công rèn luyện và khắc phục được hạn chế của mình).

Có nhiều tiêu chí lựa chọn. Tiêu chí nào cũng có cơ sở cả. Khi đã có cơ sở lý luận và thực tiễn để lựa chọn rồi thì thường là các em hài lòng về quyết định của mình. Tuy nhiên, sự hài lòng này dài hạn hay ngắn hạn, có bền vững hay không là do chính bản thân các em.

Nên chọn theo sở trường, tránh xa sở đoản mới là bền vững. Tuy vậy, cũng không nên quá bảo thủ, cực đoan mà hãy nghe những lời khuyên vì có khi các em không đủ thông tin.

 Các em nên cân nhắc sở thích nguyện vọng của mình có bị ngộ nhận hay không? Tôi thấy Lý thuyết Holland (xem ở box) về chọn nghề cũng là một nguồn tham khảo để trắc nghiệm rất tốt.

Ngoài ra, để những vấn đề trên được toại nguyện, TS cần phải hết sức lưu ý đến vấn đề kỹ thuật. Theo đó, các em phải tìm hiểu kỹ càng về những vấn đề liên quan đến kỳ tuyển sinh năm nay. Có những điểm mới so với trước đây, tra tìm điểm chuẩn 3 năm gần kề để lượng sức ngành nghề đó ở trường nào thì phù hợp.

 Đây tuy là vấn đề kỹ thuật ngắn hạn nhưng nếu không lưu ý làm đúng ngay từ đầu thì có khi lại bị chệch hướng, gây lãng phí cho bản thân, gia đình và xã hội. Và thực tế cho thấy: đã có nhiều rắc rối cho những sự thiếu cân nhắc những lời khuyên rất đơn giản này.

Lĩnh vực nghề nghiệp ứng với mỗi nhóm sở thích (Theo lý thuyết Holland)

 

R (Realistic): Người thực hiện nhóm “sở thích nghề nghiệp” này thường có khả năng về kỹ thuật, công nghệ, hệ thống; ưa thích làm việc với đồ vật, máy móc, động thực vật; thích làm các công việc ngoài trời. Ngành nghề phù hợp với nhóm này bao gồm: Các nghề về kiến trúc, an toàn lao động, nghề mộc, xây dựng, thủy sản, kỹ thuật, máy tàu thủy, lái xe, huấn luyện viên, nông - lâm nghiệp (quản lý trang trại, nhân giống cá, lâm nghiệp…), cơ khí (chế tạo máy, bảo trì và sửa chữa thiết bị, luyện kim, cơ khí ứng dụng, tự động…), điện - điện tử, địa lý - địa chất (đo đạc, vẽ bản đồ địa chính), dầu khí, hải dương học, quản lý công nghiệp…

 I (Investigative): Có khả năng về quan sát, khám phá, phân tích đánh giá và giải quyết các vấn đề. Ngành nghề phù hợp với nhóm này bao gồm: Các ngành thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên (Toán, Lý, Hóa, Sinh, Địa lý, Địa chất, Thống kê…); khoa học xã hội (Nhân học, Tâm lý, Địa lý…); Y - Dược (BS gây mê, hồi sức, BS phẫu thuật, Nha sĩ …); khoa học công nghệ (CNTT, Môi trường, Điện, Vật lý kỹ thuật, Xây dựng…), nông lâm (nông học, thú y…)

A (Artistic): Có khả năng về nghệ thuật, khả năng về trực giác, khả năng tưởng tượng cao, thích làm việc trong các môi trường mang tính ngẫu hứng, không khuôn mẫu. Ngành nghề phù hợp với nhóm này bao gồm: Các ngành về văn chương; báo chí (bình luận viên, dẫn chương trình…); điện ảnh; sân khấu; mỹ thuật; ca nhạc; múa; kiến trúc; thời trang; hội họa, giáo viên dạy Sử/Anh văn, bảo tàng, bảo tồn,…

S (Social): Có khả năng về ngôn ngữ, giảng giải, thích làm những việc như giảng giải, cung cấp thông tin, sự chăm sóc, giúp đỡ, hoặc huấn luyện cho các người khác. Ngành nghề phù hợp với nhóm này bao gồm: Sư phạm; giảng viên, huấn luyện viên điền kinh; tư vấn - hướng nghiệp; công tác xã hội, sức khỏe cộng đồng, thuyền trưởng, thư viện, bác sĩ chuyên khoa, thẩm định giá, nghiên cứu quy hoạch đô thị, kinh tế gia đình, tuyển dụng nhân sự, cảnh sát, xã hội học, bà đỡ, chuyên gia về X-quang, chuyên gia dinh dưỡng…

E (Enterprise): Có khả năng về kinh doanh, mạnh bạo, dám nghĩ dám làm, có thể gây ảnh hưởng, thuyết phục người khác; có khả năng quản lý. Ngành nghề phù hợp với nhóm này bao gồm: Các ngành về quản trị kinh doanh (quản lý khách sạn, quản trị nhân sự…), thương mại, marketing, kế toán – tài chính, luật sư, dịch vụ khách hàng, tiếp viên hàng không, thông dịch viên, pha chế rượu, kỹ sư công nghiệp (ngành KTHTCN), bác sĩ cấp cứu, quy hoạch đô thị, bếp trưởng (nấu ăn), báo chí (phóng viên,biên tập viên…).

 C (Conventional): Có khả năng về số học, thích thực hiện những công việc chi tiết, thích làm việc với dữ liệu, theo chỉ dẫn của người khác hoặc các công việc văn phòng. Ngành nghề phù hợp với nhóm này bao gồm: Các ngành nghề về hành chính, quản trị văn phòng, kế toán, kiểm toán, thư ký, thống kê, thanh tra ngành, người giữ trẻ, điện thoại viên...

Tiền Phong
 
Các tin tức khác[Quay về] 
 
- Thi tốt nghiệp 2010: Đề Ngữ văn tiếp tục ra theo hướng “mở”
- Tuyển sinh ĐH, CĐ 2010: Những thông tin mới nhất
- Tuyển sinh ĐH-CĐ 2010: Chọn ngành học dễ kiếm việc làm
- Định hướng nghề nghiệp từ sở thích
- Để thi trắc nghiệm cho tốt
- Chọn ngành dự thi nên bắt đầu từ đâu?
- Thi tốt nghiệp THPT 2010: Ôn tập kiểu nào đạt điểm cao?
- Rớt tốt nghiệp THPT vẫn được học trung cấp
- Đề thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh ĐH, CĐ bám sát chuẩn kiến thức TT
- 10 sự kiện Việt Nam nổi bật năm 2009
- 12 sự kiện nổi bật của ngành Giáo dục – Đào tạo năm 2009
- Nhiều nỗ lực hướng đến từ năm 2010, các nhà giáo có thể sống bằng lương
- Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch công bố 10 sự kiện của năm 2009
- Bộ Giáo dục phân công lại nhiệm vụ của Bộ trưởng, Thứ trưởng
- 10 sự kiện khoa học nổi bật năm 2009

 

Trang chủ | Giới thiệu | Hình | Tài nguyên | Tin tức | Nội san-Văn nghệ

Phát thanh học đường | Một số Website | Hộp thư góp ý

 


Bản quyền thuộc Trường THPT  Văn Ngọc Chính - Năm 2007